• Về Tierra
Logo Logo white

Giá vàng 1987 bao nhiêu tại Việt Nam và thế giới? Thông tư 01/NH-TT ảnh hưởng thế nào?

Giá vàng 1987 khoảng 50.000 VNĐ 1 chỉ, tương đương 500.000 đồng/lạng ta (1 lạng ta = 10 chỉ). Giá vàng và toàn bộ thông tin khác về vàng trong năm 1987 chủ yếu được cập nhật từ “Thông tư số 01/NH-TT ngày 28 tháng 1 năm 1988 của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam hướng dẫn thi hành quyết định số 76/HĐBT ngày 13 tháng 5 năm 1987 của Hội đồng Bộ trưởng về thăm dò, khai thác, chế biến và mua bán vàng, đá quý khai thác từ lòng đất” chứ hiện nay có rất ít tài liệu đề cập đến giá vàng của năm này. Cùng Tierra Diamond khám phá chi tiết hơn giá vàng năm 1987 cũng như các quy định của Nhà nước nhằm khuyến khích sản xuất, đồng thời kiểm soát cung – cầu để ổn định giá trong bài viết dưới đây nhé!

Bối Cảnh Kinh Tế Việt Nam Giai Đoạn 1987

Để giải đáp được câu hỏi năm 1987 bao nhiêu tiền 1 chỉ vàng, chúng ta hãy cùng điểm sơ qua tình hình kinh tế Việt Nam lúc bấy giờ để xem xét những tác động đến thị trường vàng.

 Năm 1987 đánh dấu bước ngoặt lớn trong lịch sử kinh tế Việt Nam, khi đất nước bước vào giai đoạn đầu của công cuộc Đổi Mới. Việt Nam tiến hành chuyển đổi theo giá thị trường, xoá bao cấp, xóa tem phiếu, mở ra cơ hội phát triển nhưng cũng đối mặt với vô vàn khó khăn.

Lúc bấy giờ, lạm phát lên gần 700%, đến năm 1988 có giảm xuống nhưng vẫn ở mức khủng khiếp là 300%. Tháng 1 và tháng 2 năm 1989, lạm phát tăng mỗi tháng 8%. (Theo ông Lê Đức Thúy, nguyên Thống đốc Ngân hàng Nhà nước), hàng hóa khan hiếm, sản xuất trì trệ và đồng tiền Việt Nam mất giá nhanh chóng. Trong bối cảnh đó, vàng trở thành kênh trú ẩn an toàn, được người dân tin tưởng để bảo toàn giá trị tài sản. Việc tích trữ vàng, đặc biệt là vàng miếng và vàng thỏi, trở thành thói quen phổ biến trong xã hội.

Trước tình hình thị trường vàng biến động mạnh, Nhà nước bắt đầu siết chặt quản lý hoạt động khai thác, chế tác và lưu thông kim loại quý. Một cột mốc quan trọng là Quyết định số 76/HĐBT ngày 13/5/1987 của Hội đồng Bộ trưởng, quy định về việc thăm dò, khai thác, chế biến và mua bán vàng, đá quý khai thác từ lòng đất. Chính sách này được xem là bước đi mang tính chiến lược, vừa hợp pháp hóa các hoạt động kinh doanh vàng, vừa tạo nền tảng để Nhà nước điều tiết cung – cầu, kiểm soát dòng chảy tài sản quý trong nền kinh tế.

Từ thời điểm này, thị trường vàng Việt Nam dần được định hình, chuyển từ trạng thái tự phát sang khuôn khổ quản lý có tổ chức, góp phần ổn định kinh tế vĩ mô trong giai đoạn đầu Đổi Mới.

Bối Cảnh Kinh Tế Việt Nam Giai Đoạn 1987
Bối Cảnh Kinh Tế Việt Nam Giai Đoạn 1987

Giá vàng năm 1987 bao nhiêu một chỉ thực tế

1. Giá vàng năm 1987 tại Việt Nam bao nhiêu 1 chỉ?

Giá vàng năm 1987 ước tính khoảng 50.000 đồng/chỉ, dựa trên giá bán lẻ bình quân của Công ty kinh doanh vàng bạc Trung ương theo Thông tư 01/NH-TT của Ngân hàng Nhà nước.

Theo quy định, giá vàng khoảng 13.333.000 đồng/kg, tương đương với 500.000 đồng/lạng ta (1 kg vàng ≈ 26,66 lạng ta) mà 1 lạng ta = 10 chỉ nên vàng khoảng 50.000 đồng/chỉ.

  • Giá vàng 9999 năm 1987 tại Việt Nam: 50.000 đồng/chỉ (dựa trên giá vàng ta vì vàng 9999 cũng là vàng ta).
  • Giá vàng 24k năm 1987 tại Việt Nam: 50.000 đồng/chỉ (dựa trên giá vàng ta vì vàng 24k cũng thường được gọi là vàng ta).
  • Giá vàng nhẫn năm 1987 tại Việt Nam: 50.000 đồng/ chỉ hoặc hơn vì vàng nhẫn thời đó cũng chủ yếu được chế tác từ vàng ta.
Giá vàng năm 1987 tại Việt Nam bao nhiêu 1 chỉ?
Giá vàng năm 1987 tại Việt Nam bao nhiêu 1 chỉ?

2. Giá vàng năm 1987 trên thế giới 

Giá đóng cửa trung bình của vàng vào năm 1987 là khoảng 486,50 đô la một ounce troy. Tuy nhiên vào tháng 12 năm 1987, giá vàng tăng vọt lên 502,30 đô la một ounce. Biến động giá vàng trong năm 1987 được cho là chịu ảnh hưởng nặng nề bởi “cơn thanh lý hoảng loạn” của thị trường chứng khoán trong vụ sụp đổ Thứ Hai Đen vào tháng 10 năm 1987, khiến các nhà đầu tư bán tài sản, bao gồm cả vàng.

Giá vàng năm 1987 trên thế giới
Giá vàng năm 1987 trên thế giới

3. Những dấu mốc lịch sử của giá vàng quốc tế

Giai đoạn 1971 – 1980: Thoát khỏi bản vị vàng và khủng hoảng dầu mỏ

  • Tháng 8/1971: Tổng thống Mỹ Richard Nixon tuyên bố chấm dứt chế độ bản vị vàng, chính thức kết thúc hệ thống Bretton Woods được thiết lập từ năm 1944. Trước đó, tỷ giá cố định được duy trì ở mức 35 USD/oz vàng.
  • Tháng 8/1972: Mỹ phá giá đồng USD lần đầu tiên, nâng giá vàng lên 38 USD/oz.
  • Tháng 3/1973: Các nước lớn chuyển sang cơ chế tỷ giá thả nổi, khiến giá vàng bắt đầu dao động mạnh theo thị trường.
  • Tháng 5/1973: Mỹ tiếp tục phá giá USD xuống 42,22 USD/oz, chấm dứt hoàn toàn mối liên kết giữa USD và vàng.
  • Tháng 1/1980: Giá vàng đạt 850 USD/oz, mức cao kỷ lục thời bấy giờ. Nguyên nhân đến từ lạm phát toàn cầu, khủng hoảng dầu mỏ, chiến tranh Afghanistan và Cách mạng Iran, khiến giới đầu tư ồ ạt tìm đến vàng làm nơi trú ẩn an toàn.

Giai đoạn 1980 – 1999: Suy giảm và tái cơ cấu dự trữ vàng

  • Thập niên 1980: Sau đợt tăng nóng, giá vàng giảm mạnh do chính sách thắt chặt tiền tệ của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (FED) và đồng USD phục hồi.
  • Tháng 11/1987: Giá vàng giao ngay đạt khoảng 502,97 USD/oz, đây là mức cao nhất kể từ năm 1983, phản ánh ảnh hưởng của khủng hoảng chứng khoán toàn cầu (Black Monday).
  • Tháng 8/1999: Giá vàng rơi xuống 251,7 USD/oz, mức thấp nhất trong hai thập kỷ. Nguyên nhân chính là các ngân hàng trung ương bán vàng dự trữ và các công ty khai mỏ phòng ngừa rủi ro giá thông qua hợp đồng kỳ hạn.
  • Tháng 10/1999: Sau khi 15 ngân hàng trung ương châu Âu ký Thỏa thuận Washington giới hạn việc bán vàng, giá bật tăng trở lại 338 USD/oz, đánh dấu bước khởi đầu cho chu kỳ tăng giá mới.

Giai đoạn 2000 – 2008: Bất ổn chính trị và khủng hoảng tài chính toàn cầu

  • Tháng 2/2003: Giá vàng vượt 370 USD/oz, mức cao nhất trong 4 năm, do căng thẳng trước chiến tranh Iraq.
  • Cuối năm 2003 – đầu 2004: Giá vàng lần đầu tiên phá mốc 400 USD/oz, do USD suy yếu và nhu cầu đầu tư trú ẩn tăng cao.
  • Tháng 11/2005: Giá vàng vượt 500 USD/oz, mức chưa từng thấy kể từ tháng 12/1987.
  • Tháng 4/2006: Giá vàng lần đầu tiên vượt 600 USD/oz, và đến tháng 5/2006 chạm 730 USD/oz, do lo ngại địa chính trị tại Iran và đồng USD mất giá.
  • Tháng 6/2006: Sau khi đạt đỉnh, vàng giảm xuống 543 USD/oz do giới đầu tư chốt lời hàng loạt.
  • Tháng 11/2007: Giá vàng trở lại mức 845 USD/oz, gần bằng đỉnh lịch sử năm 1980.
  • Tháng 3/2008: Lần đầu tiên trong lịch sử, giá vàng vượt 1.000 USD/oz, sau đó đạt đỉnh 1.033,9 USD/oz vào ngày 17/3/2008, giữa khủng hoảng tài chính Mỹ và sự sụp đổ của ngân hàng Bear Stearns.

Giai đoạn 2009 – 2011: Chu kỳ tăng giá kỷ lục

  • Đầu năm 2009: Trong bối cảnh khủng hoảng tài chính toàn cầu, các quỹ ETF như SPDR Gold Trust ghi nhận dòng vốn kỷ lục, với lượng vàng nắm giữ tăng 45% lên 1.127,44 tấn.
  • Tháng 2/2009: Giá vàng trở lại trên 1.000 USD/oz, do nỗi lo suy thoái toàn cầu.
  • Tháng 4/2009: Trung Quốc công bố tăng dự trữ vàng lên 1.054 tấn, thúc đẩy tâm lý tích trữ vàng toàn cầu.
  • Tháng 9/2009: Giá vàng lần đầu vượt lại 1.000 USD/oz sau 7 tháng, và đến tháng 12/2009, vượt 1.200 USD/oz.
  • Giữa năm 2010: Giá vàng liên tục phá đỉnh, đạt 1.264,9 USD/oz (tháng 6) và 1.296,1 USD/oz (tháng 9), do khủng hoảng nợ công châu Âu và chính sách nới lỏng tiền tệ của FED.
  • Tháng 11/2010: Giá vàng lần đầu vượt 1.400 USD/oz, khi nhà đầu tư tìm đến vàng trước lo ngại vỡ nợ của Ireland.
  • Tháng 3/2011: Vàng lập đỉnh 1.434,65 USD/oz giữa làn sóng bất ổn chính trị tại Trung Đông.
  • Tháng 7/2011: Giá vàng đạt 1.601 USD/oz, đánh dấu chuỗi 11 ngày tăng liên tiếp, do khủng hoảng nợ lan rộng tại châu Âu và nguy cơ vỡ nợ của Mỹ.
Những dấu mốc lịch sử của giá vàng quốc tế
Những dấu mốc lịch sử của giá vàng quốc tế

So sánh thị trường vàng 1987 tại Việt Nam với hiện tại

Năm 1987, thị trường vàng Việt Nam vẫn chịu sự quản lý chặt chẽ của Nhà nước. Hoạt động khai thác và thu mua do các công ty vàng bạc quốc doanh thực hiện theo giá do Ngân hàng Nhà nước quy định, người dân không được tự do mua bán, và mọi lượng vàng khai thác đều phải bán lại cho Nhà nước. Giá vàng khi đó chủ yếu phản ánh chính sách tài chính – tiền tệ, không gắn trực tiếp với giá thế giới.

Hiện nay, sau khi ban hành Nghị định 24/2012/NĐ-CP, thị trường vàng đã vận hành theo cơ chế thị trường có quản lý. Các thương hiệu lớn như SJC, DOJI, PNJ hoạt động theo cung cầu và biến động giá vàng quốc tế. Người dân có thể tự do mua bán, tích trữ và đầu tư vàng, trong khi Nhà nước giữ vai trò điều tiết ổn định vĩ mô.

Sự thay đổi này cho thấy bước chuyển mạnh mẽ của Việt Nam từ cơ chế bao cấp sang nền kinh tế thị trường hội nhập, giúp thị trường vàng trở nên năng động, minh bạch và gắn kết chặt chẽ hơn với kinh tế toàn cầu.

So sánh thị trường vàng 1987 tại Việt Nam với hiện tại
So sánh thị trường vàng 1987 tại Việt Nam với hiện tại

Những yếu tố ảnh hưởng trực tiếp và gián tiếp đến giá vàng Việt Nam năm 1987

1. Chính sách quản lý vàng từ thông tư 01/NH-TT

Để ứng phó với tình hình kinh tế và quản lý chặt chẽ hơn thị trường vàng, Hội đồng Bộ trưởng đã ban hành Quyết định số 76/HĐBT ngày 13-5-1987 về thăm dò, khai thác, chế biến và mua bán vàng, đá quý khai thác từ lòng đất. Trong đó quy định rõ về “Giá mua bán vàng, bạc, đá quý”, “Công bố giá mua bán vàng, bạc, đá quý”, “Thể thức thanh toán mua, bán vàng, bạc, đá quý” như sau:

Giá mua bán vàng, bạc, đá quý

Giá mua vàng khai thác của xí nghiệp quốc doanh và tổ chức kinh tế Nhà nước:

Căn cứ vào nguyên tắc trên và kết quả trao đổi với các ngành liên quan (Uỷ ban Vật giá Nhà nước, Bộ Tài chính) thống nhất áp dụng tỷ lệ chiết khấu thương nghiệp là 9%, hao tổn và chi phí tinh luyện thành vàng 10 là 5% của giá bán lẻ bình quân. (Hai tỷ lệ này tạm thời áp dụng trong 6 tháng, kể từ ngày ban hành Thông tư này). Công thức định giá mua vàng khai thác là:

Giá vàng 1987 bao nhiêu tại Việt Nam và thế giới? Thông tư 01/NH-TT ảnh hưởng thế nào?

Ví dụ: Giá bán buôn công nghiệp 1kg vàng cám 100% do xí nghiệp luyện kim màu thuộc Bộ Cơ khí và Luyện kim khác đã được Uỷ ban Vật giá Nhà nước duyệt trong công văn số 564/UBVGNN-TLSX ngày 10-11-1987 là 11.500.000 đồng. Cách tính toán như sau:

Giá bán lẻ bình quân của Công ty kinh doanh vàng bạc Trung ương tại thời điểm đó là 13.333.000đ/kg (tính ra là 500.000 đ/lạng ta, với 1 kg = 26,66 lạng ta).

 13.333.000 -(13.333.000 x 9)/100 + (13.333.000 x 5)/100 = 11. 466.620đ

Lấy tròn là 11.500.000 đồng.

Đối với các xí nghiệp quốc doanh và tổ chức kinh tế Nhà nước khai thác vàng được dưới 3kg/năm cũng áp dụng theo giá mua này. Công ty kinh doanh vàng bạc Trung ương có trách nhiệm thông báo giá mua cho Công ty kinh doanh vàng bạc địa phương được uỷ nhiệm mua hộ biết để thực hiện.

Công bố giá mua bán vàng, bạc, đá quý: 

Mỗi khi thị trường có biến động giá tăng hoặc giảm có ảnh hưởng đến mua và bán thì Giám đốc Ngân hàng Nhà nước tỉnh, thành phố, thống nhất về nguyên tắc với Chủ nhiệm Uỷ ban Vật giá cùng cấp; Giám đốc Ngân hàng Nhà nước công bố và điều chỉnh giá mua, bán vàng, bạc, đá quý. Việc phân cấp công bố giá quy định như sau :

– Giám đốc Ngân hàng Nhà nước tỉnh công bố giá mua, giá bán lẻ kinh doanh vàng bạc, đá quý tại địa phương kể cả giá mua vàng của tập thể và cá nhân khai thác trong địa phương nhằm đảm bảo cho Công ty kinh doanh vàng bạc địa phương có thể mua bán được và kinh doanh có lãi, có tác dụng quản lý giá thị trường. Giám đốc Công ty kinh doanh vàng bạc địa phương chịu trách nhiệm thi hành theo giá đã công bố.

– Tổng giám đốc Ngân hàng Nhà nước công bố giá mua, bán vàng khai thác của xí nghiệp quốc doanh và các tổ chức kinh tế Nhà nước có khai thác vàng. Giám đốc Công ty kinh doanh vàng bạc Trung ương chịu trách nhiệm thi hành giá đã công bố.

– Giá mua bán vàng bạc, đá quý giữa Công ty kinh doanh vàng bạc Trung ương với các tổ chức kinh tế, các Công ty kinh doanh vàng bạc địa phương do Giám đốc Công ty kinh doanh vàng bạc Trung ương dựa vào các nguyên tắc trên và giá kinh doanh vàng bạc tại thị trường Hà Nội để quy định.

Những yếu tố ảnh hưởng trực tiếp và gián tiếp đến giá vàng Việt Nam năm 1987
Chính sách quản lý vàng từ thông tư 01/NH-TT

Thể thức thanh toán mua, bán vàng, bạc, đá quý

a) Các tập thể và cá nhân bán vàng, đá quý được trả tiền mặt theo kết quả từng lần hoặc thanh toán bằng chuyển khoản nếu có tài khoản tại Ngân hàng Nhà nước.

b) Các xí nghiệp quốc doanh, tổ chức kinh tế (bao gồm các Công ty kinh doanh vàng bạc địa phương) bán vàng, đá quý được thanh toán tiền theo biên bản mua bán có ghi rõ khối lượng, chất lượng và đơn giá từng loại vàng hoặc đá quý, đơn vị mua bán thanh toán tiền kịp thời, sòng phẳng.

* Tham khảo từ Cơ Sở Dữ Liệu Quốc Gia Về Văn bản Pháp Luật Ngân Hàng Nhà Nước Việt Nam (THÔNG TƯ SỐ 01/NH-TT NGÀY 28 THÁNG 1 NĂM 1988 CỦA NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM HƯỚNG DẪN THI HÀNH QUYẾT ĐỊNH SỐ 76/HĐBT NGÀY 13 THÁNG 5 NĂM 1987 CỦA HỘI ĐỒNG BỘ TRƯỞNG VỀ THĂM DÒ, KHAI THÁC, CHẾ BIẾN VÀ MUA BÁN VÀNG, ĐÁ QUÝ KHAI THÁC TỪ LÒNG ĐẤT)

Tiếp theo đó, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đã ban hành Thông tư số 01/NH-TT ngày 28 tháng 1 năm 1988 để hướng dẫn chi tiết việc thực hiện quyết định này, đặc biệt là về việc tổ chức mạng lưới thu mua và quy định giá kim loại quý 1987 và đầu năm 1988.

Thông tư này quy định rõ vai trò của các Công ty kinh doanh vàng bạc cấp tỉnh và trung ương trong việc thu mua vàng từ các cá nhân, tập thể được cấp phép khai thác cũng như từ các đơn vị kinh tế quốc doanh. Mục tiêu là đảm bảo mua hết sản lượng, góp phần quản lý thị trường, giá cả và phục vụ đời sống nhân dân. Điều này cho thấy sự can thiệp mạnh mẽ của nhà nước vào thị trường vàng 1987, với mong muốn kiểm soát nguồn cung và ổn định giá vàng giai đoạn Đổi Mới.

2. Cơ chế thu mua và định giá vàng trong giai đoạn 1987 vàng từ thông tư 01/NH-TT

Sau khi Quyết định số 76/HĐBT được ban hành, nhằm cụ thể hóa cơ chế quản lý hoạt động khai thác và kinh doanh kim loại quý, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đã ban hành Thông tư số 01/NH-TT ngày 28/1/1988, hướng dẫn chi tiết việc thu mua và định giá vàng trên phạm vi toàn quốc. Đây là một bước đi quan trọng trong việc hình thành thị trường vàng có tổ chức đầu tiên tại Việt Nam sau thời kỳ bao cấp.

Hệ thống thu mua vàng Nhà nước

Theo Thông tư, các Công ty kinh doanh vàng bạc Nhà nước ở cấp trung ương và địa phương đóng vai trò chủ chốt trong việc thu mua vàng cám và đá quý do các đơn vị, cá nhân được cấp phép khai thác sản xuất.

Ở cấp tỉnh, thành phố và đặc khu, các công ty vàng bạc địa phương có nhiệm vụ xây dựng mạng lưới thu mua rộng khắp, bảo đảm thu mua hết lượng vàng khai thác hợp pháp, đồng thời ổn định giá cả và kiểm soát lưu thông thị trường.

Khi lượng vàng thu mua vượt quá định mức dự trữ vốn hiện kim, các công ty địa phương được phép bán lại phần dư thừa cho Công ty kinh doanh vàng bạc Trung ương để đảm bảo cân đối vốn..

Công ty kinh doanh vàng bạc Trung ương chịu trách nhiệm thu mua vàng từ các xí nghiệp quốc doanh lớn, bao gồm các đơn vị khai thác vàng – đá quý trung ương và địa phương, các xí nghiệp khai khoáng khác (thiếc, đồng, kẽm…) cũng như các đoàn địa chất và đơn vị quân đội làm kinh tế.

Để hỗ trợ các đơn vị khai thác nhỏ lẻ có sản lượng dưới 3kg vàng/năm, Ngân hàng Nhà nước ủy quyền cho các công ty vàng bạc địa phương trực tiếp thu mua nhằm giảm chi phí vận chuyển và khuyến khích khai thác hợp pháp.

Nguyên tắc định giá vàng

Cơ chế định giá vàng được xây dựng theo nguyên tắc “khuyến khích sản xuất, đảm bảo lợi ích Nhà nước và người khai thác”.
Theo hướng dẫn của Quyết định 76/HĐBT, giá thu mua vàng được tính theo công thức:

Giá thu mua = Giá bán lẻ vàng kinh doanh – Chiết khấu thương nghiệp + Chi phí hao tổn và tinh luyện

Sau khi thống nhất giữa Ngân hàng Nhà nước, Bộ Tài chính và Ủy ban Vật giá Nhà nước, các mức chiết khấu tạm thời được ấn định như sau:

  • Chiết khấu thương nghiệp: 9% giá bán lẻ bình quân.
  • Chi phí hao tổn và tinh luyện: 5% giá bán lẻ bình quân.

Tổng mức điều chỉnh này được áp dụng trong 6 tháng đầu kể từ ngày ban hành Thông tư, nhằm tạo biên lợi nhuận hợp lý cho doanh nghiệp Nhà nước thu mua, đồng thời khuyến khích người khai thác nộp vàng hợp pháp thay vì bán ra thị trường tự do.

Cơ chế thu mua và định giá vàng trong giai đoạn 1987 vàng từ thông tư 01/NH-TT
Cơ chế thu mua và định giá vàng trong giai đoạn 1987 vàng từ thông tư 01/NH-TT

Chính sách định giá cho cá nhân và tập thể khai thác

Đối với cá nhân và tập thể được cấp phép khai thác vàng, Giám đốc Ngân hàng Nhà nước tại địa phương có quyền xây dựng mức giá thu mua riêng, căn cứ vào giá bán lẻ vàng kinh doanh thực tế và điều kiện khai thác cụ thể.
Mục tiêu của cơ chế này là vừa bảo đảm lợi ích của người khai thác, vừa duy trì sự kiểm soát của Nhà nước đối với nguồn vàng trong xã hội.

Chính sách thu mua – định giá vàng giai đoạn 1987–1988 thể hiện bước chuyển quan trọng trong quản lý kinh tế thời kỳ Đổi Mới: từ mô hình bao cấp sang thị trường có điều tiết. Nhà nước không còn độc quyền tuyệt đối, mà bắt đầu sử dụng công cụ tài chính – tín dụng để điều tiết cung cầu vàng, giữ ổn định giá trị đồng tiền và góp phần chống lạm phát.

Giá Đá Quý, Bạc và Mối Tương Quan Giữa Giá Vàng, Bạc và Đá Quý Trong Giai Đoạn 1987

Giá mua bán đá quý và bạc sẽ được căn cứ dựa vào giá vàng: 

– Giá đá quý: Căn cứ quan hệ tỷ lệ giữa giá vàng và giá đá quý quy định tại Công văn số 27/NH-QĐ.B ngày 8-9-1975 của Tổng giám đốc Ngân hàng Nhà nước, khi tính giá hiện nay cần đối chiếu với giá thị trường để tăng hoặc giảm cho phù hợp với thời giá.

– Giá bạc: Giá mua, bán vàng có quan hệ tỷ lệ chặt chẽ với giá mua bán bạc. Qua theo dõi trong thời gian dài ở thị trường trong nước và thị trường thế giới cho thấy: Cứ giá trị 1 kg vàng 10 tuổi = giá trị từ 75 đến 80kg bạc 10 tuổi; căn cứ quan hệ tỷ lệ trên, lấy giá mua bán vàng để vận dụng xác định giá mua bán bạc cho thoả đáng.

Giá Đá Quý, Bạc và Mối Tương Quan Giữa Giá Vàng, Bạc và Đá Quý Trong Giai Đoạn 1987
Giá Đá Quý, Bạc và Mối Tương Quan Giữa Giá Vàng, Bạc và Đá Quý Trong Giai Đoạn 1987

Bài học đầu tư từ lịch sử giá vàng Việt Nam

Việc nhìn lại giá vàng năm 1987 và cơ chế quản lý vàng trong giai đoạn đầu Đổi Mới mang lại nhiều bài học quan trọng cho nhà đầu tư hiện nay. Giai đoạn này là minh chứng rõ nét cho vai trò của vàng như một công cụ bảo toàn giá trị trong thời kỳ kinh tế bất ổn và lạm phát cao. Khi sức mua của đồng tiền giảm mạnh, giá vàng lại có xu hướng tăng lên, giúp người nắm giữ tránh được sự mất giá của tài sản – một nguyên tắc vẫn đúng cho đến ngày nay.

Bên cạnh đó, lịch sử cho thấy chính sách của Nhà nước có ảnh hưởng sâu rộng đến biến động giá vàng trong nước. Việc Nhà nước quản lý chặt thị trường vàng, kiểm soát hoạt động khai thác, lưu thông và định giá trong giai đoạn 1987–1990 đã khiến giá vàng trong nước nhiều thời điểm chênh lệch đáng kể so với giá vàng thế giới. Sự khác biệt này phản ánh mối quan hệ giữa chính sách tiền tệ, dự trữ ngoại hối và niềm tin thị trường – những yếu tố mà nhà đầu tư hiện đại cần đặc biệt lưu ý.

Từ góc độ đầu tư, hiểu rõ lịch sử giá vàng Việt Nam không chỉ giúp đánh giá các chu kỳ tăng – giảm của kim loại quý mà còn cung cấp cơ sở để dự báo xu hướng tương lai. Khi chính sách tiền tệ, tỷ giá và lạm phát thay đổi, vàng luôn là thước đo phản ánh mức độ ổn định của nền kinh tế. Nhà đầu tư thông minh nên theo dõi sát chính sách của Ngân hàng Nhà nước, biến động USD/VND, và nhu cầu dự trữ vàng của các ngân hàng trung ương – bởi đây chính là các yếu tố quyết định hướng đi dài hạn của giá vàng trong nước.

Bài học đầu tư từ lịch sử giá vàng Việt Nam
Bài học đầu tư từ lịch sử giá vàng Việt Nam

Một số câu hỏi thường gặp khi tìm hiểu về giá vàng 1987

1. Vì sao giá vàng năm 1987 lại quan trọng trong lịch sử kinh tế Việt Nam?

Năm 1987 là thời điểm Việt Nam bắt đầu công cuộc Đổi Mới, khi nền kinh tế rơi vào tình trạng lạm phát cao và đồng tiền mất giá. Giá vàng lúc này phản ánh rõ vai trò của Nhà nước trong việc kiểm soát thị trường kim loại quý, đồng thời cho thấy nhu cầu người dân tìm đến vàng như một kênh giữ tài sản an toàn.

2. Có nên tham khảo giá vàng thời điểm 1987 để đầu tư hiện tại không?

Tìm hiểu giá vàng năm 1987 giúp nhà đầu tư hiểu được quy luật biến động và tác động của chính sách kinh tế lên giá vàng. Tuy nhiên, không nên dùng mức giá thời điểm đó làm căn cứ đầu tư hiện tại, vì thị trường vàng ngày nay đã chịu ảnh hưởng lớn từ yếu tố toàn cầu, chính sách tiền tệ và cung cầu quốc tế.

3. Ai là người có quyền định giá vàng tại Việt Nam vào năm 1987?

Thời điểm đó, Ngân hàng Nhà nước là cơ quan duy nhất được phép định giá vàng. Tổng Giám đốc Ngân hàng Nhà nước công bố giá thu mua vàng từ các xí nghiệp quốc doanh, trong khi Giám đốc Ngân hàng Nhà nước tại địa phương quy định giá mua bán vàng của cá nhân và tập thể khai thác trong tỉnh.

Bài viết trên là một số thông tin về giá vàng 1987. Hy vọng những gì mà Tierra Diamond đã cung cấp sẽ giúp bạn biết thêm về giá vàng năm 1987 tại Việt Nam, thế giới cũng như tình hình kinh tế Việt Nam lúc bấy giờ nhé!

>> Xem thêm:

Bài viết liên quan

Nhận tư vấn từ Tierra

Đăng ký ngay bên dưới để nhận được sự hỗ trợ từ chúng tôi.

    icon-advise
    icon-advise

    icon chat

    Chính sách bảo mật

    Vui lòng đồng ý với Chính sách bảo mật dữ liệu của Tierra trước khi gửi thông tin.

    Đang gửi thông tin, vui lòng chờ...